Bài Văn Mẫu Phân Tích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ

phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Chinh phụ ngâm là một kiệt tác của Đặng Trần Côn đã diễn tả xuất sắc sự cô đơn, nỗi nhớ mong da diết của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Để làm rõ điều này nhau lập dàn ý và phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong đoạn trích cùng tên nhé.

1. Phân tích đề bài và lập dàn ý chi tiết

Đề bài: Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích trong tác phẩm Chinh phụ ngâm) của Đặng Trần Côn để cảm nhận tiếng được lòng thiết tha, thổn thức của người chinh phụ.

1.1. Phân tích đề bài

  • Yêu cầu đề bài: phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ qua nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
  • Phạm vi tư liệu và dẫn chứng: từ ngữ, các chi tiết tiêu biểu trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích trong Chinh phụ ngâm.
  • Phương pháp lập luận chính: phương pháp phân tích.

1.2. Hệ thống luận điểm trong phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Luận điểm 1: Tình cảnh cô đơn, lẻ loi và nỗi buồn tủi của người chinh phụ (16 câu thơ đầu)

  • Những hành động được lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị.
  • Ngày đêm thao thức, nhớ mong ngóng trông tin chồng.
  • Cảm nhận khác thường về ngoại cảnh, thời gian.
  • Hoạt động gắng gượng để duy trì nếp sống hằng ngày.

Luận điểm 2: Nỗi nhớ thương chồng ở nơi chiến trận của người chinh phụ (8 câu thơ còn lại)

  • Mong ước của người chinh phụ.
  • Nỗi nhớ thương của người chinh phụ.
  • Mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm tình.

1.3. Lập dàn ý chi tiết phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

1.3.1. Mở bài phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Giới thiệu vài nét về tác giả Chinh phụ ngâm Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm.

  • Đặng Trần Côn là một danh nhân văn hóa có cống hiến to lớn đối với nền văn học Việt Nam trong đó nổi tiếng nhất là tác phẩm chữ Hán Chinh phụ ngâm.
  • Đoàn Thị Điểm (1705 – 1749) là nữ sĩ thời Lê trung hưng, bậc nhất Việt Nam về sắc đẹp lẫn tài văn chương trong những nữ sĩ danh tiếng nhất.

Giới thiệu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Vị trí đoạn trích: Từ câu 193 đến câu 220 của tác phẩm Chinh phụ ngâm.

Nội dung: Diễn biến tâm trạng của người chinh phụ trong quãng thời gian chồng đi chinh chiến và tiếng than oán trách chiến tranh phong kiến phi nghĩa, cũng như đòi quyền sống, hạnh phúc lứa đôi.

1.3.2. Thân bài phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 

phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Bản thể tác phẩm Chinh phụ ngâm

a. Tình cảnh cô đơn, lẻ loi và nỗi buồn tủi của người chinh phụ (16 câu thơ đầu)

Những hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị:

  • “Thầm reo từng bước”: Bước chân lặng lẽ đi đi lại lại.
  • “Rủ thác đòi phen”: Vào trong phòng buông rèm rồi lại cuốn rèm lên không biết bao nhiêu lần.

=> Hành động lặp lại đi lặp lại được thực hiện một cách vô thức và vô nghĩa thể hiện tâm trạng thẫn thờ, chồng chất những ưu tư, trĩu nặng u buồn, không biết phải san sẻ cùng ai của người chinh phụ.

  • “Dạo hiên vắng”: tâm thế của một người đang phải âm thầm chịu đựng sự lẻ loi, cô đơn.
  • “Ngồi rèm thưa”: lặng lẽ ngóng trông ra ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy.

=> Chữ “vắng, thưa” không chỉ gợi sự tĩnh mịch của không gian mà còn cho thấy được nỗi trống vắng trong lòng người người chinh phụ.

Thao thức ngóng trông tin chồng:

  • Ban ngày: Người chinh phụ gửi nỗi niềm và hy vọng vào tiếng chim thước ( một loài chim khách báo tin lành). Nhưng thực tế lại “thước chẳng mách tin”: Tin tức của chồng vẫn bặt vô âm tín.
  • Ban đêm: Người chinh phụ luôn thao thức cùng ngọn đèn và hy vọng đèn biết tin tức về chồng cùng san sẻ nỗi lòng cùng nàng. Mà thực tế: “Đèn chẳng biết”, “lòng thiếp riêng bi thiết”. Câu thơ đặc biệt, hình thức khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn dù có biết cũng như không vì nó chỉ là một vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cô đơn cùng người chinh phụ.
  • So sánh với bài ca dao “khăn thương nhớ ai”, cả 2 đều xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao chính là tri âm tri kỷ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm vào nỗi đau trong lòng người phụ nữ.
  • Hình ảnh so sánh “hoa đèn” cùng với “bóng người”. “Hoa đèn” dầu bấc ngọn đèn, thực tế chính là than. Cũng giống như ngọn đèn mạnh mẽ cháy hết mình để rồi chỉ còn hoa đèn tàn lụi, người chinh phụ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng chỉ nhận lại sự cô đơn, trống trải.

Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:

“Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”

Cảm nhận khác thường về ngoại cảnh:

“Gà eo óc gáy sương năm trống

Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”

  • Các chi tiết “Gà gáy”, “sương” và “hòe”: Là những hình ảnh gắn liền với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả
  •  Từ láy “eo óc, phất phơ”: Diễn tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.

=> Có thể thấy, cảnh vật và sự sống phía bên ngoài đều nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, vô định không dễ nắm bắt. 

Cảm nhận khác thường của người chinh phụ ấy về thời gian.

“Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

  • “Khắc giờ đằng đẵng” và “mối sầu dằng dặc”: Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt của người chinh phụ.
  • Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình và gợi cảm: “dằng dặc, đằng đẵng” tạo nên âm hưởng buồn thương như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ tin chồng, mỗi phút mỗi giây ngắn ngủi trôi qua mà cảm giác nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài khiến mối sầu càng nặng nề hơn.
  • So sánh: 1 giờ = 1 năm và mối sầu với biển lớn mênh mông

=> Nỗi buồn khiến thời gian dài đằng đãng và bao trùm lên cả không gian mênh mông tựa như biển cả.

Hoạt động cố gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày.

  • “Gượng đốt hương”: miễn cưỡng đốt hương để tìm sự thanh thản nhưng  lại khiến lòng dạ lại mê man, không tập trung, khắc khoải và những dự cảm chẳng lành.
  • “Gượng soi gương”: gắng soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó nét mặt đau khổ, khắc khoải.
  • Gượng gảy đàn: Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để cố gắng ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng điềm gở.

=> Thể hiện sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm của người chinh phụ. Nỗi buồn tủi nhớ nhung của người chinh phụ đã lên tới cực điểm. Những hành động gượng gạo tựa như thiếu đi sức sống không giúp người chinh phụ tìm được sự giải tỏa, vơi bớt nỗi lòng nên nỗi cô đơn, lại khiến sầu nhớ càng thêm chồng chất.

b. Nỗi nhớ chồng nơi chiến trận của người chinh phụ (8 câu còn lại)

Không gian mở rộng trong phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ:

“Non Yên dù chẳng tới miền

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.”

  • “Non Yên”: điển tích chỉ miền núi non nơi biên ải xa xôi.
  • Hình ảnh “đường lên trời” xa vời: Không gian chia li rộng lớn mà chỉ kích thước của vũ trụ “đường lên bằng trời” mới sánh kịp.
  • “Thăm thẳm”: độ dài của thời gian, độ rộng của không gian, độ sâu của nỗi nhớ vô tận, vô cùng.

=> Hình ảnh ước lệ gợi lên khoảng cách muôn trùng giữa người chinh phụ và chồng mình. Nỗi nhớ lớn đến nỗi như bao như bao trùm cả không gian.

  • “Đau đáu”: khát khao, nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu.

=> Tình và cảnh hòa lẫn với nhau, nỗi lòng thương nhớ nặng nề. Nỗi lòng của người chinh phụ đã hoàn toàn phơi ra ngoài cảnh vật.

Các hình ảnh:

  • “Cành cây sương đượm”: thể hiện sự buốt giá trong tâm hồn người.
  • “Tiếng trùng mưa phun”: tâm trạng ảo não của người chinh phụ.
phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Sách Chinh phụ ngâm khúc

=> Khao khát sự đồng cảm nhưng lại vô vọng, sầu nhớ thương da diết. Khi “tiếng trùng mưa phun“ rung lên cảm giác như không còn nghe tiếng của ”lòng này” nữa mà là tâm trạng của con người đã lẩn khuất trong hình ảnh, âm điệu của tự nhiên, âm thanh của tiếng trùng hay cũng là âm thanh của một cõi lòng tan nát.

1.3.3. Kết bài phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Khái quát lại nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

  • Nội dung đoạn trích: Tình cảnh lẻ loi và tâm trạng não nề của người chinh phụ khi phải sống cô đơn, buồn khổ với những cung bậc và sắc thái khác nhau trong khoảng thời gian dài người chồng đi đánh trận.
  • Nghệ thuật: Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, bút pháp miêu tả nội tâm nhân vật vô cùng tinh tế kết hợp biện pháp tu từ so sánh, điệp từ, từ láy, ẩn dụ, điệp liên hoàn và bút pháp ước lệ, tả cảnh ngụ tình, ngôn từ tinh túy chọn lọc.

Liên hệ với số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, qua đó phê phán những chiến tranh phi nghĩa.

2. Bài văn mẫu phân tích tình cảnh éo le của người chinh phụ

Bài Làm

Có thể nói văn học thế kỉ XVIII là văn học của những tiếng nói cảm thương cho số phận bất hạnh của người phụ nữ. Ngoài kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du chúng ta cũng không thể không nhắc đến tác phẩm Chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn. Tác phẩm chính là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ khi chồng phải ra chiến trận. Tâm trạng của người chinh phụ được thể hiện rõ nhất thông qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Theo các tư liệu lịch sử, vào đầu thời vua Lê Hiển Tông, có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra. Triều đình phải đưa quân ra trận, nhiều trai tráng buộc phải từ giã gia đình, người thân để ra trận. Bao nhiêu những chàng trai lên đường thì có bấy nhiêu người mẹ, người vợ ở nhà chìm trong nhớ thương, buồn tủi. Tác giả Đặng Trần Côn đồng cảm với nỗi niềm của người chinh phụ để nói lên nỗi lòng của họ. Trích đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ được trích từ câu 193 đến câu 216 đã diễn tả tâm trạng của người phụ nữ khi phải xa chồng, thế giới tâm trạng đó được thể hiện độc đáo qua rất nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm khác nhau.

Đầu tiên tâm trạng bồn chồn lo lắng, nhớ thương của người chinh phụ được thể hiện qua các hành động lặp đi lặp lại: “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước”. Bước chân chậm chạp, nặng trĩu tâm trạng và chất chứa biết bao nỗi niềm chán ngán của người chinh phụ. Bước chân này khác khi so với bước chân của nàng Kiều khi tìm đến tình yêu: 

“Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”

Người chinh phụ hết đứng lên rồi lại ngồi xuống, tâm trạng nàng luôn trong tình trạng thấp thỏm, bất an bởi lo lắng cho an nguy của chồng ở nơi chiến trường đầy nguy hiểm. Tâm trạng bất an ấy còn được thể hiện qua hành động: “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” người phụ nữ ấy hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên, dường như đó là một hành động vô thức, nàng không chủ động làm mà chỉ hành động vô thức để vơi bớt nỗi âu lo. Hết hướng mắt ra ngoài bức rèm để mong chờ tin tức tốt lành rồi lại phải thẫn thờ quay vào đối diện với ngọn đèn đơn độc.

phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Chiến tranh khiến người phụ nữ thường phải tiễn chồng ra trận trong phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Trong nỗi bồn chồn ấy còn chứa cả nỗi nhớ thương thao thức, mong ngóng chồng quay trở về. Trong văn học, hình ảnh ngọn đèn thường được sử dụng để nói về nỗi nhớ mong, thao thức. Chẳng hạn như bài ca dao quen thuộc: “Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt”. Hay trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, người vợ nhớ thương chồng nên đêm đêm chỉ bóng mình trên tường và nói với con đó chính là bố. Đây là hình ảnh xuất hiện rất nhiều trong văn học, và ở đây, người chinh phụ cũng lấy ngọn đèn để thể hiện nỗi nhớ thương. Trong căn phòng trống vắng, hiu quạnh, chỉ có mình cây đèn là người bạn để cùng chia sẻ mỗi nỗi lòng với người chinh phụ. Nhưng ngọn đèn lại là vật vô tri vô giác nên chinh phụ rất đau khổ nhận ra rằng 

“Đèn có biết dường bằng chẳng biết”. 

Hình ảnh “Hoa đèn kia với bóng người khá thương”, hoa đèn là đầu sợi bấc đèn cháy đỏ như hoa đèn, đó là dấu hiệu khi dầu hao, bấc hỏng. Chứng tỏ người chinh phụ đã thao thức trong rất nhiều đêm, với tâm trạng triền miên, khắc khoải, mong nhớ về chồng. Cái không gian bên ngoài càng làm cho nỗi cô đơn của người chinh phụ được khắc họa rõ nét hơn. “tiếng gà eo óc”  âm thanh nghe thật thê lương, khắc khoải. Kết hợp với từ láy “phất phơ” diễn tả nhịp điệu buồn tẻ, chậm rãi, thể hiện rõ nét tâm trạng ngao ngán của người chinh phụ. Hai hình ảnh tương hỗ, kết hợp để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lẻ loi. 

Từ đó người chinh phụ cảm nhận được nỗi cô đơn hơn bao giờ hết: 

“Khắc giờ đằng đẵng như niên 

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

Thời gian trôi qua thật nặng nề, vô vị. Cách đong đếm thời gian trong tâm trạng buồn chán cũng đã được Nguyễn Du nói đến: 

“Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”

Mối âu sầu trải dài mênh mông đến vô cùng. Dùng biện pháp so sánh để diễn tả một các cụ thể tâm trạng của chinh phụ để cảm nhận được nỗi buồn mênh mông.

Nỗi cô đơn bủa vây, người chinh phụ cố gắng gượng, tìm mọi cách để có thể trốn chạy khỏi nó. Nàng đốt hương để tìm lại được sự thanh thản trong tâm hồn, nhưng hồn đã mê man, người chinh phụ càng chìm đắm sâu hơn trong nỗi phiền muộn. Nàng lấy gương ra soi, để tìm thú vui trong việc chỉnh chu trang nhan sắc, nhưng khi soi gương nàng lại phải đối mặt với sự cô đơn, lẻ loi, hơn nữa người chinh phụ lại nhận ra sự tàn phai của thanh xuân. Nước mắt ngày càng chan chứa, nỗi đau khổ lại càng nhiều hơn, người chinh phụ thấm thía nỗi cô đơn và tuổi thanh xuân dần phai trong sự trống vắng. 

Nàng cố gượng đánh đàn để nhớ về những kỷ niệm đẹp của hai người nhưng bỗng nhiên lại tự ý thức về tình cảnh của mình, người chinh phụ thấy tủi thân trước những biểu tượng đôi lứa trong các nhạc cụ: “Đàn sắt, đàn cầm” hai loại đàn gảy hòa âm với nhau được ví như cảnh vợ chồng hòa thuận. “Dây uyên” dây đàn uyên ương là biểu tượng cho đôi lứa gắn bó, hòa hợp. “Phím đàn loan phượng” cũng là một biểu tượng của sự gắn kết. Tất cả các nhạc cụ đều có đôi có cặp, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng. 

phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Người chinh phụ cô đơn lẻ loi làm đủ mọi cách cũng không thể dức khỏi nỗi nhớ chồng nơi chiến trận

Thậm chí nỗi cô đơn đã khiến nàng trở nên lo lắng và sợ hãi chơi đàn dây sẽ bị đứt, phím đàn bị chùng, nàng sợ hãi vì đó là những biểu hiện không may mắn của đôi lứa. Khi tìm đến những nhạc cụ nhưng cũng không chạy trốn được khỏi nỗi cô đơn, người chinh phụ cố gắng quên bằng cách tìm đến những thú vui nhưng trớ trêu thay nàng càng cố gắng nàng càng đối diện với bi kịch của mình, càng đau khổ hơn.

Nàng tìm đến với thiên nhiên, nhưng thiên nhiên lại cho nàng nhận thấy khoảng cách vời vợi giữa nàng và chồng. “Non Yên” nơi chiến trận tận nơi biên ải xa xôi, một thứ khoảng cách xa vời khôn thấu. Người chinh phụ lại tìm cách để vượt qua khoảng cách, gửi lại tất cả nỗi niềm nhớ nhung cho chồng bằng ngọn gió đông, nhưng đây chỉ là nàng tự tưởng tượng, không thể nào thực hiện. Nàng một lần nữa lại phải đối mặt với thực tại, cảm nhận, thấm thía bi kịch của mình: “cảnh xung quanh hiện hữu ngay trước mắt, sương khuya lạnh lẽo, tiếng côn trùng rả rích trong đêm”. Cảnh tượng thật thê lương, ảm đạm, đang bủa vây lấy người chinh phụ khiến nàng sống trong đau đớn, nhớ thương.

Qua việc phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ở đoạn trích đã cho chúng ta thấy nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình của Đặng Trần Côn. Tâm trạng, cảm xúc của chinh phụ được miêu tả ở nhiều cung bậc khác nhau thông qua các hành động và ngoại cảnh. Thể thơ song thất lục bát cùng hệ thống từ láy giàu giá trị gợi hình, gợi cảm đã diễn tả nên một thế giới nội tâm phong phú và khát khao hạnh phúc lứa đôi của nhân vật, đây là nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của ông. Đồng thời cũng là lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép những cuộc chiến tranh phi nghĩa ở xã hội đương thời.

Trên đây là hướng dẫn cách lập dàn ý chi tiết và bài văn mẫu phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong chương trình ngữ văn lớp 10, hy vọng bài viết sẽ giúp bạn đạt được điểm số cao trong học tập.