Bệnh Dại Là Gì? Một Số Lưu Ý Về Bệnh Dại Bạn Cần Biết

bệnh dại

Hiện nay, bệnh dại đang là một căn bệnh khá phổ biến ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Nhưng thật sự, rất ít người hiểu rõ về căn bệnh này, nguyên nhân của bệnh dại và những biện pháp xử lý khi không may mắc phải bệnh dại một cách đúng đắn và thích hợp nhất.

1. Bệnh dại là gì?

Bệnh dại là một bệnh do vi-rút gây ra, gây viêm não ở người và các động vật có vú khác. Các triệu chứng ban đầu có thể bao gồm sốt và ngứa ran tại vị trí tiếp xúc. 

Bệnh dại do lyssavirus gây ra, bao gồm vi-rút dại và lyssavirus dơi Úc. Nó lây lan khi động vật bị nhiễm bệnh cắn hoặc cào con người hoặc động vật khác. Nước bọt của động vật bị nhiễm bệnh cũng có thể truyền bệnh dại nếu nước bọt tiếp xúc với mắt, miệng hoặc mũi. 

2. Nguyên nhân của bệnh dại

Trên thế giới, chó là loài động vật phổ biến nhất có liên quan đến căn bệnh này. Ở các quốc gia nơi chó thường mắc bệnh, hơn 99% trường hợp mắc bệnh dại là do bị chó cắn trực tiếp. Ở châu Mỹ, dơi cắn là nguồn lây nhiễm bệnh dại phổ biến nhất ở người và ít hơn 5% trường hợp là do chó. Loài gặm nhấm rất hiếm khi bị nhiễm bệnh dại. Bệnh chỉ có thể được chẩn đoán sau khi bắt đầu có các triệu chứng.

3. Các triệu chứng của bệnh dại

bệnh dại
Các triệu chứng của bệnh dại là gì?

Các triệu chứng này được theo sau bởi một hoặc nhiều triệu chứng sau: cử động dữ dội, hưng phấn không kiểm soát được, sợ nước, không thể cử động các bộ phận của cơ thể, lú lẫn và mất ý thức. 

Một khi các triệu chứng xuất hiện, hậu quả là gần như luôn luôn dẫn đến tử vong. Khoảng thời gian từ khi mắc bệnh đến khi bắt đầu xuất hiện các triệu chứng thường là từ một đến ba tháng, nhưng có thể thay đổi từ dưới một tuần đến hơn một năm. Thời gian phụ thuộc vào khoảng cách mà vi-rút phải di chuyển dọc theo các dây thần kinh ngoại vi để đến hệ thần kinh trung ương.

4. Bệnh dại lây truyền như thế nào?

Vi-rút dại lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp (chẳng hạn như qua da hoặc niêm mạc bị vỡ ở mắt, mũi hoặc miệng) với nước bọt hoặc mô não / hệ thần kinh từ động vật bị nhiễm bệnh.

Người ta thường mắc bệnh dại do vết cắn của động vật bị dại. Người ta cũng có thể mắc bệnh dại do tiếp xúc không phải vết cắn, có thể bao gồm trầy xước, trầy xước hoặc vết thương hở tiếp xúc với nước bọt hoặc vật liệu có khả năng lây nhiễm khác từ động vật bị dại. Các hình thức tiếp xúc khác, chẳng hạn như vuốt ve động vật bị dại hoặc tiếp xúc với máu, nước tiểu hoặc phân của động vật bị dại, không liên quan đến nguy cơ lây nhiễm và không được coi là tiếp xúc đáng lo ngại đối với bệnh dại.

Các phương thức lây truyền khác – ngoài vết cắn và vết xước – không phổ biến. Hít phải vi-rút dại dạng khí dung là một con đường tiếp xúc tiềm ẩn không phải vết cắn, nhưng ngoại trừ nhân viên phòng thí nghiệm, hầu hết mọi người sẽ không gặp phải vi-rút dại dạng khí dung. Sự lây truyền bệnh dại qua việc cấy ghép giác mạc và cơ quan rắn đã được ghi nhận, nhưng chúng cũng rất hiếm. Chỉ có hai người hiến tạng rắn được biết đến mắc bệnh ở Hoa Kỳ kể từ năm 2008. Nhiều tổ chức thu mua nội tạng đã thêm câu hỏi sàng lọc về phơi nhiễm với bệnh dại vào quy trình đánh giá mức độ phù hợp của từng người hiến tặng.

Về mặt lý thuyết, vết cắn và không tiếp xúc với vết cắn từ người bị bệnh có thể truyền bệnh dại, nhưng không có trường hợp nào như vậy được ghi nhận. Tiếp xúc thông thường, chẳng hạn như chạm vào người bị bệnh hoặc tiếp xúc với chất lỏng hoặc mô không lây nhiễm (nước tiểu, máu, phân), không liên quan đến nguy cơ lây nhiễm. Tiếp xúc với người đang được tiêm phòng dại không cấu thành phơi nhiễm bệnh dại, không có nguy cơ lây nhiễm và không cần điều trị dự phòng sau phơi nhiễm.

Vi-rút dại trở nên không lây nhiễm khi nó khô đi và khi nó tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Các điều kiện môi trường khác nhau ảnh hưởng đến tốc độ vi-rút không hoạt động, nhưng nói chung, nếu vật liệu chứa vi-rút khô, vi-rút có thể được coi là không lây nhiễm.

5. Khi bị chó cắn hay động vật cắn nên làm gì?

Khi bị cắn chúng ta cần phải thực hiện các bước sau:

Bước 1: Vệ sinh vết thương:

  • Trước hết, chúng ta cần tách rời quần áo ra khỏi vết cắn, trong trường hợp vết cắn ở chân thì nên dùng kéo cắt bỏ phần vải tại vị trí cắn. Việc này giúp hạn chế nước bọt của động vật bám nhiều hơn vào vết thương.
  • Sau đó, nhanh chóng rửa vết thương dưới vòi nước chảy mạnh trong vòng 15 phút, nước ấm càng tốt. Rồi tiếp đến là rửa sạch vết thương với cồn 70%, cồn i-ốt hoặc Povidone-Iodine, tuyệt đối không cố gắng nặn máu. Đặc biệt, không nên chà sát vết thương, tránh làm vết thương trầm trọng hơn.

Bước 2: Băng bó vết thương

  • Ngay khi đã vệ sinh vết thương, người bệnh nên dùng gạc y tế hay vải sạch để băng bó vết thương để cầm máu đồng thời tránh trường hợp vi khuẩn xâm nhập. Tuy vậy, bạn không nên băng bó quá chặt khiến máu khó lưu thông.

Bước 3: Tiêm phòng

  • Quan trọng hơn hết bạn cần đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để tiêm vắc xin phòng dại ngay sau bị chó cắn. Bên cạnh đó, bạn nên tuân thủ lịch tiêm theo lộ trình và loại vắc xin phòng dại sẽ được các bác sĩ tư vấn phù hợp.

6. Vacxin ngừa bệnh dại

bệnh dại
Có bao nhiêu loại vacxin ngừa bệnh?

Hầu hết tất cả những người tiếp xúc với bệnh dại đều tử vong cho đến khi một loại vắc-xin được phát triển vào năm 1885 bởi Louis Pasteur và Émile Roux. Vắc xin ban đầu của họ được thu hoạch từ những con thỏ bị nhiễm bệnh, từ đó vi-rút trong mô thần kinh bị suy yếu bằng cách để nó khô trong 5 đến 10 ngày. Các vắc-xin có nguồn gốc từ mô thần kinh tương tự vẫn được sử dụng ở một số quốc gia, vì chúng rẻ hơn nhiều so với vắc-xin nuôi cấy tế bào hiện đại. 

Thuốc chủng ngừa bệnh tế bào lưỡng bội ở người được bắt đầu vào năm 1967. Thuốc chủng ngừa bệnh dại tế bào phôi gà tinh khiết ít tốn kém hơn và thuốc chủng ngừa bệnh dại tế bào vero tinh khiết hiện đã có sẵn. Một loại vắc-xin tái tổ hợp được gọi là V-RG đã được sử dụng ở Bỉ, Pháp, Đức và Hoa Kỳ để ngăn chặn sự bùng phát bệnh dại ở động vật chưa được thuần hóa. Chủng ngừa trước khi phơi nhiễm đã được sử dụng ở cả quần thể người và không phải người, trong đó, cũng như ở nhiều khu vực pháp lý, động vật thuần hóa được yêu cầu phải được tiêm phòng. 

Tới thời điểm này thì Việt Nam đang có 2 loại vắc xin phòng dại gồm Verorab (Pháp) và Abhayrab  (Ấn Độ). Cả hai đều là các loại vắc xin được sản xuất theo công nghệ mới, cải thiện vượt bậc so với các loại vắc xin phòng dại thế hệ cũ. Vắc xin dại đều đã được kiểm định an toàn, khẳng định khả năng đáp ứng miễn dịch cao sau khi tiêm đủ liều.

Hầu hết tất cả các loại vắc xin dại hiện tại đều an toàn. Bên cạnh đó, cho tới thời điểm hiện tại thì thế giới vẫn chưa ghi nhận những biến cố bất lợi nghiêm trọng nào sau tiêm chủng vắc xin dại.

7. Cách phòng ngừa bệnh dại

bệnh dại
Hãy cẩn thận để không mắc bệnh dại

Các chương trình kiểm soát động vật và tiêm phòng đã làm giảm nguy cơ mắc bệnh dại từ chó ở một số khu vực trên thế giới. 

Việc tiêm chủng cho người trước khi bị phơi nhiễm được khuyến khích cho những người có nguy cơ cao, bao gồm cả những người làm việc với dơi hoặc những người sống trong thời gian dài ở các khu vực trên thế giới có bệnh dại phổ biến.

Ở những người đã tiếp xúc với bệnh dại, thuốc chủng ngừa và đôi khi là globulin miễn dịch phòng bệnh dại có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh nếu người đó được điều trị trước khi bắt đầu có các triệu chứng bệnh.

Rửa vết cắn và vết xước trong 15 phút bằng xà phòng và nước, povidone-iodine hoặc chất tẩy rửa có thể làm giảm số lượng các phần tử vi-rút và có thể phần nào hiệu quả trong việc ngăn ngừa lây truyền. Tính đến năm 2016, chỉ có mười bốn người sống sót sau khi nhiễm bệnh dại sau khi xuất hiện các triệu chứng

Báo cáo Thường niên 2007 của Bộ Y tế Missouri và Các Dịch vụ Cao cấp Giám sát các Bệnh Truyền nhiễm nêu rõ những điều sau đây có thể giúp giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh dại: 

  • Tiêm phòng bệnh dại cho chó, mèo và chồn hương
  • Giữ vật nuôi dưới sự giám sát
  • Không xử lý động vật hoang dã hoặc đi lạc
  • Liên hệ với nhân viên kiểm soát động vật khi quan sát động vật hoang dã hoặc đi lạc, đặc biệt nếu động vật có biểu hiện kỳ ​​lạ
  • Nếu bị động vật cắn, rửa vết thương bằng xà phòng và nước trong 10 đến 15 phút và liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe để xác định xem có cần điều trị dự phòng sau phơi nhiễm hay không

Ngày 28 tháng 9 là Ngày Thế giới Phòng chống bệnh dại, nhằm thúc đẩy thông tin, phòng ngừa và loại bỏ căn bệnh này.

8. Hậu quả do bệnh dại để lại

Bệnh dại đã gây ra khoảng 17.400 người chết trên toàn thế giới trong năm 2015. Hơn 95% số người chết vì bệnh xảy ra ở Châu Phi và Châu Á. Khoảng 40% trường hợp tử vong xảy ra ở trẻ em dưới 15 tuổi.

Bệnh dại có ở hơn 150 quốc gia và trên tất cả các lục địa, trừ Nam Cực. Hơn 3 tỷ người sống ở các khu vực trên thế giới có bệnh dại. Một số quốc gia, bao gồm Úc và Nhật Bản, cũng như phần lớn Tây Âu, không có bệnh dại ở chó. Nhiều đảo ở Thái Bình Dương hoàn toàn không có bệnh dại. Nó được xếp vào loại bệnh nhiệt đới bị lãng quên.

9. Lịch tiêm vắc xin bệnh dại

bệnh dại
Tiêm vacxin để phòng ngừa bệnh

9.1. Phác đồ tiêm phòng dại trước khi phơi nhiễm (chưa bị cắn)

  • Tiêm ngừa cơ bản: Tiêm bắp 3 mũi (0.5ml/liều) vào các ngày 0, 7 và 28.
  • Tiêm nhắc lại: Sau 1 năm, 5 năm tiêm lại một lần.

9.2. Tiêm ở bắp, phác đồ tiêm phòng dại khi đã xác định có phơi nhiễm (đã bị cắn)

  • Đối với người chưa tiêm bệnh dại dự phòng: Tiêm 05 mũi (0.5ml/liều) vào các ngày 0, 3, 7, 14, 28. Trong trường hợp phơi nhiễm độ III, cần phối hợp tiêm Immunoglobulin dại kết hợp.
  • Người đã tiêm dự phòng bệnh trong 5 năm gần đây: Tiêm 02 mũi vào ngày 0 và 3.
  • Người đã tiêm dự phòng bệnh dại không đều hay quá 5 năm: Tiêm 05 mũi vào các ngày 0, 3, 7, 14, 28 và có thể tiêm thêm Immunoglobulin.

9.3. Tiêm trong da, phác đồ tiêm phòng dại, liều 0.1ml vacxin hoàn nguyên như sau

  • Người chưa tiêm dự phòng bệnh dại: Tiêm 4 mũi: tiêm ở vị trí hai bên chi khác nhau, mỗi bên liều lượng 0.1 ml, vào các ngày 0, 3, 7 và 28.
  • Người đã tiêm dự phòng: Tiêm 0.1ml vào các ngày 0 và 3.
  • Kỹ thuật tiêm trong da phải được thực hiện đúng, tránh tiêm dưới da.
  • Phải dùng bơm kim tiêm riêng để tránh lây nhiễm.

Mong rằng bài viết sẽ giúp bạn hiểu rõ về căn bệnh dại nguy hiểm này và có cách thức phòng ngừa và chữa trị kịp thời nhất.