Bướu Cổ Là Gì? Nguyên Nhân Và Các Triệu Chứng Của Nó

bướu cổ

Bướu cổ là một tuyến giáp mở rộng khiến cổ sưng lên. Đây là một trong những rối loạn tuyến giáp phổ biến nhất. Bướu cổ thường vô hại nhưng các triệu chứng có thể xảy ra và có thể cần điều trị tùy thuộc vào kích thước và loại bướu cổ.

1. Bướu cổ là gì?

Bướu cổ là tình trạng tuyến giáp phát triển lớn hơn. Tuyến giáp là một tuyến nhỏ hình bướm nằm ở cổ,  phía trước khí quản, có nhiệm vụ sản xuất và tiết ra các hormone điều chỉnh sự phát triển và trao đổi chất.

bướu cổ
Bướu cổ là gì?

Tuyến giáp sản xuất hormone thyroxine (còn gọi là T4) và triiodothyronine (còn gọi là T3). (Hầu hết T4 được thay đổi thành T3 bên ngoài tuyến giáp.) Những hormone này đóng một vai trò trong các chức năng nhất định của cơ thể, bao gồm nhiệt độ cơ thể, tâm trạng và sự kích thích, nhịp tim, tiêu hóa và những thứ khác.

Hầu hết các trường hợp được phân loại là mắc bệnh ‘đơn giản’ không liên quan đến viêm hoặc bất kỳ tình trạng hại nào đến chức năng tuyến giáp. Một số người bị sưng một ít. Những người khác có thể bị sưng đáng kể làm co thắt khí quản và gây khó thở.

2. Nguyên nhân gây ra bệnh bướu cổ

Bệnh bướu cổ có nhiều nguyên nhân khác nhau, tùy thuộc vào loại bướu của chúng. Bệnh đơn giản phát triển khi tuyến giáp không tạo đủ hormone để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Tuyến giáp cố gắng bù đắp sự thiếu hụt này bằng cách phát triển lớn hơn.

2.1. Thiếu i-ốt 

Thiếu i-ốt là nguyên nhân chính gây ra bệnh bướu cổ trên toàn thế giới. Nhưng rất hiếm xảy ra ở các nước kinh tế phát triển, nơi thường xuyên bổ sung i-ốt vào muối. Bệnh bướu cổ đặc biệt xảy ra ở những người không có đủ i-ốt trong chế độ ăn uống của họ. Bởi vì tuyến giáp cần iốt để sản xuất hormone tuyến giáp, điều hòa sự trao đổi chất.

Vì i-ốt ít được tìm thấy trong thực vật nên chế độ ăn thuần chay có thể thiếu đủ iốt. Nhưng  điều này ít có vấn đề hơn đối với những người ăn chay mà có thêm i-ốt vào muối. I-ốt trong chế độ ăn uống được tìm thấy ở hải sản, thực phẩm thực vật được trồng trên đất giàu iốt, sữa bò,…

bướu cổ
Cung cấp i-ốt mỗi ngày chống bướu cổ

Ở một số nơi trên thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh có thể lên tới 80%, chẳng hạn như ở các vùng núi xa xôi ở Đông Nam Á, Mỹ Latinh và Trung Phi. Ở những nơi này, lượng i-ốt hấp thụ hàng ngày có thể giảm xuống dưới 25 microgam (mcg) mỗi ngày, và trẻ em sinh ra thường bị suy giáp.

2.2. Bệnh tự miễn

Nguyên nhân chính gây ra bệnh bướu cổ ở các nước phát triển là bệnh tự miễn. Phụ nữ trên 40 tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, cũng như những người có tiền sử gia đình mắc bệnh này.

Suy giáp là kết quả của một tuyến giáp hoạt động kém và điều này gây ra bệnh bướu cổ. Do tuyến này sản xuất quá ít hormone tuyến giáp nên bị kích thích sản xuất nhiều hơn, dẫn đến sưng tấy.

Điều này thường là do viêm tuyến giáp Hashimoto, một tình trạng trong đó hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công mô của chính nó và gây ra tình trạng viêm tuyến giáp.

2.3. Các nguyên nhân khác

Các nguyên nhân ít phổ biến hơn gây ra bệnh bướu cổ bao gồm

  • Hút thuốc: Thiocyanate trong khói thuốc cản trở quá trình hấp thụ iốt.
  • Thay đổi nội tiết tố: Mang thai, dậy thì và mãn kinh có thể ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp.
  • Viêm tuyến giáp: Ví dụ như viêm do nhiễm trùng, có thể dẫn đến bướu cổ.
  • Lithi: Loại thuốc tâm thần này có thể can thiệp vào chức năng tuyến giáp.
  • Tiêu thụ quá nhiều iốt: Quá nhiều iốt có thể gây ra bệnh bướu cổ.
  • Xạ trị: Điều này có thể kích hoạt tuyến giáp sưng lên, đặc biệt là khi dùng cho cổ. 

2.4. Các bệnh và tình trạng khác cũng có thể gây ra bướu cổ

  • Bệnh Graves: là một bệnh tự miễn dịch được hiểu là hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công nhầm cơ thể khỏe mạnh của bạn. Trong trường hợp này, hệ thống miễn dịch tấn công tuyến giáp và tuyến giáp phát triển lớn hơn.
  • Bệnh Hashimoto: đây là một bệnh tự miễn dịch khác. Trong trường hợp này, bệnh gây viêm (sưng) tuyến giáp. Điều này làm cho nó sản xuất ít hormone tuyến giáp hơn, dẫn đến bướu cổ. Loại bệnh này thường tự khỏi theo thời gian.
  • Bướu cổ nốt: trong tình trạng này, các nốt phát triển được gọi là nốt xuất hiện ở một hoặc cả hai bên của tuyến giáp, khiến nó phát triển lớn hơn.
  • Ung thư tuyến giáp: thường mở rộng tuyến giáp.
  • Thai kỳ: Gonadotropin màng đệm ở người là một loại hormone mà phụ nữ sản xuất trong thời kỳ mang thai, có thể khiến tuyến giáp phát triển.
  • Viêm tuyến giáp: bản thân tình trạng viêm của tuyến giáp có thể khiến tuyến giáp phát triển. Điều này có thể xảy ra sau khi một người bị bệnh do vi rút gây ra hoặc sau khi phụ nữ sinh con.
  • Tiếp xúc với bức xạ: một người đã được điều trị bức xạ y tế cho đầu và cổ (nhưng không phải các thủ tục chẩn đoán, chẳng hạn như chụp CT) có nguy cơ phát triển bướu cổ cao hơn.

3. Các triệu chứng của bệnh bướu cổ

bướu cổ
Các triệu chứng của bệnh bướu cổ

Mức độ sưng và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng do bướu cổ gây ra tùy thuộc vào từng cá nhân. Hầu hết người mắc bệnh không có triệu chứng. Khi các triệu chứng xảy ra những điều sau đây là phổ biến nhất

  • Xuất hiện một vết sưng ở phía trước cổ ngay dưới trái cổ nếu là con trai. 
  • Có cảm giác căng tức vùng cổ họng.
  • Khàn giọng: nói nhưng tiếng phát ra từ cổ họng khàn khàn.
  • Sưng tĩnh mạch cổ.
  • Chóng mặt khi cánh tay giơ cao quá đầu.

Các triệu chứng khác ít phổ biến hơn bao gồm

  • Khó thở, thở gấp.
  • Ho khan, thở khò khè do ép khí quản.
  • Khó nuốt do thực quản bị ép, hay còn gọi là ống dẫn thức ăn.

Một số người có bướu cổ cũng có thể bị cường giáp hay tuyến giáp hoạt động quá mức. Các triệu chứng của cường giáp có thể bao gồm

  • Tăng nhịp tim nghỉ ngơi.
  • Tim đập loạn nhịp.
  • Dễ kích động: hiếu động thái quá.
  • Tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa.
  • Đổ mồ hôi khi không tập thể dục hoặc tăng nhiệt độ phòng.
  • Mẫn cảm với nhiệt độ.
  • Rụng tóc.

Một số người bị bướu cổ cũng có thể bị suy giáp, hoặc tuyến giáp hoạt động kém. Các triệu chứng của suy giáp có thể bao gồm

  • Mệt mỏi cảm thấy trong người mệt mỏi.
  • Táo bón.
  • Da khô.
  • Tăng cân.
  • Hay quên.
  • Kinh nguyệt không đều.
  • Tính cách cũng bắt đầu thay đổi.

4. Cách điều trị bệnh bướu cổ

Hầu hết các bệnh về bướu cổ đơn giản đều có thể phòng ngừa được thông qua việc cung cấp đủ lượng iốt. Và được nhiều quốc gia thực hiện bằng việc thêm chúng vào muối ăn hằng ngày. Điều trị tích cực bệnh được dành riêng cho các trường hợp gây ra từ các triệu chứng. Nếu bướu nhỏ và chức năng tuyến giáp bình thường thì không cần phải điều trị.

4.1. Chẩn đoán bướu cổ

Có thể chẩn đoán bướu cổ bằng cách khám thực thể cổ, sờ nắn để tìm chỗ sưng. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thực hiện động tác nuốt trong khi cảm nhận bướu cổ. Sau khi chẩn đoán, bác sĩ có thể khám phá ra bất kỳ vấn đề cơ bản nào với chức năng tuyến giáp ví dụ như do cường hoặc suy giáp.

Xét nghiệm chức năng tuyến giáp là xét nghiệm máu để đo mức TSH và T4. Cơ chế phản hồi được kiểm soát cẩn thận có nghĩa là TSH kích thích tuyến giáp sản xuất nhiều thyroxine hơn, trong khi T4 cho tuyến giáp ngừng sản xuất thyroxine.

Với một tuyến giáp hoạt động quá mức, mức TSH thấp hoặc không tồn tại và mức T4 cao. Ngược lại ở những người có tuyến giáp kém hoạt động mức TSH cao và mức T4 thấp. Một loại hormone khác tên là triiodothyronine được đo trong một số trường hợp tuyến hoạt động quá mức chẳng hạn như nghi ngờ mắc bệnh Graves.

bướu cổ
Cách các điều trị bệnh bướu cổ

4.2. Xét nghiệm chuyên khoa 

Trong một số trường hợp bướu cổ, các xét nghiệm chuyên khoa có thể được sắp xếp chẳng hạn như

  • Quét i-ốt phóng xạ: Quá trình này cung cấp hình ảnh chi tiết của tuyến sau khi tiêm i-ốt phóng xạ.
  • Siêu âm: Đánh giá tuyến và kích thước của bướu.
  • Chọc hút bằng kim nhỏ: Sinh thiết để loại bỏ một mẫu tế bào từ trong tuyến có thể được thực hiện nếu nghi ngờ ung thư.

4.3. Đối với bệnh suy giáp

Trong trường hợp do tuyến giáp hoạt động kém hoặc suy giáp cách điều trị là thay thế tổng hợp hormone tuyến giáp. Liều lượng thyroxine tổng hợp (T4) được tăng dần cho đến khi các phép đo cho thấy chức năng tuyến giáp bình thường đã được phục hồi.

Các chế phẩm tổng hợp của T4 được các bác sĩ ưa thích hơn. Nhưng các chế phẩm của hormone kích thích tuyến giáp (TSH) và sự kết hợp của cả hai có thể được thử. Cũng như chiết xuất tuyến giáp động vật sấy khô.

4.4. Đối với bệnh cường giáp

Đối với bướu cổ do tuyến giáp hoạt động quá mức điều trị nên nhằm mục đích chống lại việc sản xuất hormone dư thừa. Ví dụ cụ thể là thuốc kháng giáp như thuốc thionamide, dần dần làm giảm mức độ hormone quá mức.

Sử dụng I-ốt phóng xạ để làm giảm chức năng tuyến giáp và ngừng sản xuất hormone cũng là một lựa chọn điều trị cho bệnh cường giáp.

4.5. Phẫu thuật bướu cổ

Phẫu thuật để giảm kích thước sưng được dành riêng cho những trường hợp bướu cổ gây ra các triệu chứng phiền toái. Chẳng hạn như khó thở hoặc khó nuốt hoặc khó chịu liên quan đến tim. Phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp được thực hiện dưới phương pháp gây mê toàn thân để loại bỏ một phần tuyến giáp.

Một số loại bướu cổ chính

  • Trơn lan tỏa: điều này xảy ra khi toàn bộ tuyến giáp sưng lên.
  • Dạng nốt: một khối u phát triển trên tuyến giáp. Đây là những điều cực kỳ phổ biến nếu nhiều cục u phát triển đây được gọi là bướu cổ nhiều nốt.
  • Sau xương ức: loại bướu cổ này có thể phát triển sau xương ức. Điều này có thể làm co thắt khí quản, tĩnh mạch cổ hoặc thực quản và đôi khi cần phải phẫu thuật.

Loại bướu cổ sẽ quy định cách điều trị và các triệu chứng có thể biểu hiện. Và tùy vào tình trạng bệnh của mỗi người mà bác sĩ sẽ có cách giải quyết khác nhau. Biết hiểu để ngăn ngừa sự phát triển của bướu cổ là điều mọi người nên quan tâm.