Cồng Chiêng Tây Nguyên – Di Sản Văn Hóa Của Tây Nguyên

cồng chiêng tây nguyên

Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là một kiệt tác truyền khẩu và là một Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong năm 2005. Đối với hiện nay, việc bảo tồn và phát huy loại hình này cũng được chú trọng theo các góc độ khác nhau tại địa phương.

1. Cồng chiêng – “Thánh vật” của người Tây Nguyên

Nói về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thì nó bao trùm cả 5 tỉnh Tây Nguyên và bao gồm 17 dân tộc thiểu số sinh sống tại nơi đây. Những dân tộc ở đây tin rằng, cồng chiêng được xem là một thứ ngôn ngữ giao tiếp và kết nối trực tiếp giữ con người và thần linh hay với thế giới siêu nhiên, những chiếc cồng chiêng ở mỗi gia đình là sự biểu hiện cho quyền lực, vị thế và tài sản cho nhà đó.

Cồng chiêng là loại hình di sản văn hóa có từ rất lâu đời tồn tại từ nền văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng 3.500-4.000 năm. Có thể nói, nó xuất hiện từ khi có sự xuất hiện con người và các bộ lạc ở vùng đất này. Qua đó mà trống đồng và cồng chiêng là 2 nhạc cụ điển hình.

cồng chiêng tây nguyên
Cồng chiêng là loại hình di sản văn hóa có từ rất lâu đời tồn tại từ nền văn hóa Đông Sơn

Văn hóa cồng chiêng tây nguyên là loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền với lịch sử văn hóa của các dân tộc sống ở dãy Trường Sơn – Tây Nguyên. Qua đó mà mỗi dân tộc cũng có những cách chơi cồng chiêng riêng biệt, tùy thuộc vào những cách thức riêng để có thể sáng tạo những bản nhạc cho bộ lạc của mình. 

Trải qua năm tháng với biết bao sự thăng trầm của thời gian và lịch sử. Cho đến ngày nay, cồng chiêng Tây Nguyên đã trở thành một biểu tượng văn hóa đặc trưng của những dân tộc sinh sống tại 5 tỉnh Tây Nguyên này, thể hiện được những quyến rũ và hấp dẫn đối với vùng đất này. 

Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có sự đa dạng, độc đáo mà cồng chiêng được xem là cuộc sống của người Tây Nguyên. Ta có thể nghe được tiếng trống cồng chiêng ngay trong không gian săn bắt, đi làm rẫy hay những mùa lễ hội của con người vùng đất này.

Cồng chiêng là loại nhạc khí được đúc từ Đồng, nếu cao hơn thì có pha thêm vàng, bạc hay đồng đen. Bao gồm 2 loại đó là phần cồng và phần chiêng. Cồng là loại có núm ở chính giữa còn chiêng là loại không có núm. Cồng chiêng Tây Nguyên cũng có nhiều kích cỡ khác nhau với đường kính đa dạng từ 20 – 120cm tùy loại.

Cồng chiêng có thể được sử dụng riêng biệt hoặc cũng có thể sử dụng theo từng bộ, một bộ có thể từ 2 – 13 chiếc, thậm chí là một số nơi sử dụng từ 18 – 20 chiếc. Trong đó có một chiêng mẹ là quan trọng và cần thiết nhất.

Với dân tộc Mường cùng với nhiều dân tộc sống dọc dãy Trường Sơn – Tây Nguyên, cồng chiêng không chỉ dùng để điểm nhịp, tạo tiết tấu hoặc giai điệu bè mà còn được dùng làm hòa tấu nhạc đa âm. Qua đó mà dàn cồng chiêng của họ thường nhiều bộ đi chung với nhau. Mỗi bộ cũng có số lượng không giống nhau, đảm nhiệm những chức năng và vai trò riêng.

Cồng chiêng Tây Nguyên được gõ bằng dùi hay đấm bằng tay để tạo ra âm thanh. Một số dân tộc còn có những kỹ thuật chặn tiếng bằng tay trái hay sáng tạo ra giai điệu riêng đối với mỗi chiêng…

Nghệ thuật Cồng chiêng Tây Nguyên ngày nay đã phát triển với trình độ cao so với các nước trong khu vực. Mỗi bài chiêng sẽ có rất nhiều bè phụ. Trong đó, mỗi người dùng 1 cái chiên, một bài chiêng có bao nhiêu thì sẽ có bấy nhiều người đánh.

Khi các nghệ sỹ chơi cồng chiêng thường sẽ phải nhớ rõ các tiết tấu trong đầu rồi kết hợp chúng với nhau sao cho hài hòa và phù hợp. Mặt khác, tại Việt Nam không chỉ dùng riêng biệt một loại chiêng có núm hay chiêng bằng mà cũng dùng chiêng núm để tạo ra bè trầm.

Vì thế mà Cồng chiêng Tây Nguyên là một loại nhạc cụ vô cùng phổ biến trong nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Đối với người Tây Nguyên Cồng chiêng được xem là một vật đại diện cho họ, giá trị của một chiếc cồng chiêng không phải là giá trị bình thường, nó có một giá trị nghệ thuật mà không phải loại nhạc cụ nào cũng có.

cồng chiêng tây nguyên
Cồng chiêng Tây Nguyên là một loại nhạc cụ phổ biến trong nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc

Khi biểu diễn thành vòng tròn, những nghệ nhân vừa đánh vừa di chuyển từ phải qua trái, người chiều kim đồng hồ, ngược chiều với thời gian, điều này có ý nghĩa trở về với cội nguồn, với tổ tiên với sự cung kính và biết ơn.

Có thể nói cồng chiêng Tây Nguyên là một nét văn hóa rất đặc sắc với những đặc trưng vẫn còn giữ được nguyên gốc tạo ra những tuyệt tác vô cùng đẹp đẽ và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực dân tộc học ở nước ta hiện nay. 

2. Chất lửa thiêng của cồng chiêng

Tại các buôn làng Tây Nguyên hiện nay đều có những đội cồng chiêng biểu diễn riêng biệt, phục vụ cho người dân và đồng bào nơi đây sinh hoạt, tổ chức những lễ hội lớn nhỏ khác nhau. 

Vào các ngày lễ tết, Cồng chiêng Tây Nguyên cũng xuất hiện bên những ngọn lửa thiêng với những vòng người vây quanh ngọn lửa ấm áp ấy và say sưa với những tiếng trống cồng chiêng vô cùng thiêng liêng và ý nghĩa. Nét đặc sắc của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đó là việc kết hợp cả về âm thanh, động tác nhảy múa cùng những tiếng hò reo tại ra một nếp sống tinh thần đẹp từ xưa đến nay.

Ngoài sự phát triển ở trình độ cao thì người Tây Nguyên còn có rất nhiều hình thức chơi cồng chiêng vô cùng phong phú, đa dạng và bài bản hơn bao giờ hết. Trong đó phương pháp đánh một bài trầm trên một vài giai điệu thì được tìm thấy ở một số dấu tích của người Bana và người Giarai.

Phương pháp đánh chùm là phương pháp chủ yếu của người Ê đê. Phương pháp đối thoại thường gặp ở người M’nông. Qua đó mà có thể thấy, phương pháp sử dụng cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là rất đa dạng, chưa kể đến phong cách sử dụng của những tộc người khác cũng sống trên dãy Trường Sơn – Tây Nguyên như người Chăm, Chu ru, người Gia Lai, Êđê hay người Raglai…

cồng chiêng tây nguyên
Văn hóa cồng chiêng được trình diễn tại Festival cà phê

Cồng chiêng Tây Nguyên cũng tượng trưng cho tiềm lực kinh tế của đồng bào sống trên vùng đất Tây Nguyên xưa. Khi đó, các bộ lạc thường dùng cồng chiêng để trao đổi những thứ khác. Có thời, một chiếc chiêng có trị giá bằng 2 con voi hay hàng chục con trâu. Có thể thấy, nhà nào có nhiều cồng chiêng thì nhà đó giàu, có địa vị, có quyền lực trong buôn làng.

Điều này cũng đã khẳng định, cồng chiêng là một đồ vật gắn liền với cuộc sống của người dân vùng Tây Nguyên. Có thể so sánh nó như tiền và vàng bạc trong thời đó.

Xét về khía cạnh văn hóa – tín ngưỡng thì các bộ tộc ở đây còn sử dụng cồng chiêng trong rất nhiều các nghi lễ quan trọng trong đời sống. Chẳng hạn như người Gia Lai, khi một đứa trẻ trong buôn làng được sinh ra, họ sẽ tổ chức nghi lễ  “thổi tai” bằng cách gõ cồng chiêng nhằm cho đứa trẻ những tín hiệu đầu tiên tiếp xúc với nền văn hóa của dân tộc mình.

Mặt khác, cồng chiêng còn được sử dụng trong các nghi lễ cúng tế, ma chay, mừng năm mới, thủ tục cưới xin, tân gia, mừng mùa lúa mới, mừng chiến thắng, cầu sức khỏe, may mắn…

Ở vùng đất Tây Nguyên này, họ thường quan niệm đời người dài theo tiếng chiêng ngân vang. Cồng chiêng Tây Nguyên đem đến cho cuộc sống các dân tộc nơi đây cái thiêng liêng, sự ban phước của thần linh, của mẹ siêu nhiên. Vì thế mà tiếng chiêng mang đến cho con người cảm giác an toàn, tạo một không gian thiêng liêng. Không những thế mà còn tạo ra những cảm xúc lãng mạn, bắt nguồn cho các bài thơ ca, sử thi…

Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ là một đồ vật đại diện cho văn hóa của người Tây Nguyên mà nó còn đại diện cho nền văn hóa Việt Nam nói chung. Vì thế mà nó được xem là một kiệt tác văn hóa quan trọng của người Việt, góp phần tạo nên bản sắc của dân tộc Việt Nam.

cồng chiêng tây nguyên
Cồng chiêng gắn liền mật thiết với người dân Tây Nguyên

Cồng chiêng còn gắn liền với lễ hội đâm trâu nơi đây. Khi già làng bắt đầu đứng buộc trâu vào cột thì những thanh niên nam nữ bắt đầu đánh cồng chiêng và kết hợp với các điệu múa ở đằng sau già làng.

Sau khi đã khấn thần linh xong, tiếng cồng chiêng lại ngày một thêm to hòa quyện với những tiếng hú của dân làng. Nhờ đó mà mỗi mùa lễ hội đâm trâu thì cả làng lại trở nên rộn ràng, náo nhiệt hơn. Lễ hội đâm trâu còn được xem là một ngày hội nghệ thuật của cồng chiêng Tây Nguyên. Hầu như các nhà trong làng đều mang theo cồng chiêng đến tham dự.

Ngày nay, với rất nhiều quan trọng cho rằng cồng chiêng chỉ là một loại nhạc cụ chỉ để vui chơi nhưng thật sự nó có một ý nghĩa cao hơn đối với những người dân Tây Nguyên nơi đây. Cồng chiêng là biểu tượng, là tiếng nói của thần linh, là một đồ vật giúp con người gần với thần linh hơn.

Trong rất nhiều các sử thi Tây Nguyên như: Đam San, Xinh Nhã…đều có sự xuất hiện của cồng chiêng Tây Nguyên. Rất nhiều giai thoại, gắn liền với tính chất thiêng liêng của loại đồ vật này. Việc “thần thánh hóa” cồng chiêng cũng thể hiện rất rõ tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của con người.

Người Tây Nguyên tin rằng, bên trong mỗi chiếc cồng chiêng là có một vị thần linh cư ngụ trong đó, làm cầu nối để truyền đạt những ý chỉ những sự bảo hộ, ban phước của một vị thần đến với mỗi người. Điều chứng tỏ giá trị của nó đối với đời sống tâm linh của con người Tây Nguyên là quan trọng hơn bao giờ hết.

Đối với dân tộc Giarai hay Bana thì họ thường mang cồng chiêng trên vai khi biểu diễn và đánh theo nhịp điệu theo hình vòng tròn. Hơn hết, trong một buổi biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên thì cần phải có rượu cần để làm nghi lễ cúng Trời và khơi dậy những cảm hứng tấu nhạc.

Âm thanh của cồng chiêng cũng khác nhau theo những cấu trúc khác nhau, nó được phân theo từng nhóm, từng bè. Cồng chiêng không chỉ là một nhạc cụ mà nó là một đồ vật linh thiêng của mỗi gia đình, mỗi cộng đồng trong buôn làng.

Có thể nói, cồng chiêng Tây Nguyên mang một giá trị văn hóa và ý nghĩa dân tộc vô cùng to lớn. Nó là biểu tượng của nền văn minh cổ đại Việt Nam cũng như là tinh hoa văn hóa lớn góp phần tạo sự đặc sắc cho nền văn hóa nước nhà.