Khái Quát Chung Và Phân Tích Tác Phẩm Sống Chết Mặc Bay

Sống chết mặc bay

Sống chết mặc bay là một tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Phạm Duy Tốn nói về thực trạng xã hội Việt Nam trước Cách Mạng Tháng 8. Bài viết này, mình sẽ hướng dẫn bạn khái quát nội dung và phân tích tác phẩm này trong chương trình ngữ văn lớp 7.

1. Khái quát chung về tác phẩm Sống chết mặc bay

1.1. Tác giả Phạm Duy Tốn

Phạm Duy Tốn (1883-1924), ông là một trong số ít người có được những thành tựu đầu tiên về thể loại truyện ngắn hiện đại, trong đó tác phẩm Sống chết mặc bay là tác phẩm nổi bật nhất của ông.

Mặc dù Phạm Huy Tốn còn chịu ít nhiều ảnh hưởng của xu hướng đạo đức truyền thống nhưng những truyện ngắn của ông đã thiên về việc phản ánh hiện thực thối nát của xã hội thời bấy giờ. Trong bài Sống chết mặc bay, ông đã lên án tố cáo gay gắt giai cấp thống trị độc ác bất nhân, chỉ ham ăn chơi phè phỡn mà để mặc dân chúng lầm than trong cảnh ngập lụt.

1.2. Tác phẩm

Truyện ngắn Sống chết mặc bay thuộc loại hình tự sự, đặc trưng cơ bản nhất của nó chinh là “ngắn”. Tuy nhiên, mức độ dài ngắn của tác phẩm cũng không hoàn toàn quyết định tính chất thể loại. Nhiều tác phẩm (cũng có tính tự sự) thời trung đại nhưng không thể xếp chúng vào loại truyện ngắn bởi ngoài tính chất về dung lượng, truyện ngắn cũng còn có một số đặc trưng khác.

Khác với các truyện dài (ví dụ như thể loại tiểu thuyết) và truyện vừa thường tái hiện một cách trọn vẹn cuộc đời một nhân vật hay một sự kiện, hoàn cảnh,… truyện ngắn chỉ là một lát cắt, một khoảnh khắc hoặc một hiện tượng nổi bật (cũng có thể là hiện tượng khác thường) của cuộc sống. 

Sống chết mặc bay
Nhà văn Phạm Duy Tốn

Để đảm bảo chỉ với một dung lượng nhỏ mà truyện chuyển tải được những ý nghĩa lớn vì thế ngôn ngữ truyện ngắn phải hàm súc đến mức tối đa. Các chi tiết “thừa” (thừa ở đây là đối với việc thể hiện nội dung cốt truyện), các chi tiết rườm rà đều bị tác giả lược bỏ để tập trung vào những chi tiết chủ yếu nhất. Trong truyện ngắn, dường như hiện thực của đời sống đã được “nén” chặt lại nhằm mục đích khắc hoạ sự nổi bật một hiện tượng hay một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tâm hồn con người.

1.3. Bố cục của tác phẩm

Sống chết mặc bay được chia làm 3 phần:

  • Phần 1 từ đầu đến “khúc này để hỏng mất”. Nội dung diễn tả nguy cơ vỡ đê và sự chống chọi của người dân.
  • Phần 2 tiếp theo đến “điều mày”. Nội dung là cảnh quan lại đánh tổ tôm khi đi “hộ đê”
  • Phần 3 đoạn còn lại, diễn tả cảnh đê vỡ và nhân dân rơi vào cảnh lầm than.

1.4. Nội dung và nghệ thuật

Sống chết mặc bay đã phô bày sự đối lập một trời một vực của giữa cuộc sống cơ cực, khó khăn của người dân với cuộc sống xa đọa của lũ cầm quyền mà tiêu biểu là tên quan cầm đầu lòng lang dạ sói. Cũng như thể hiện niềm thương cảm của chính tác giả Phạm Duy Tốn đối với cảnh lầm than của người dân khi đối mặt với sự khắc nghiệt của nhân dân và sự thờ ơ vô trách nhiệm của những người cầm cân nảy mực lúc bấy giờ.

Về nghệ thuật, Phạm Duy Tốn đã sử dụng thành công nghệ thuật tương phản và nghệ thuật tăng cấp trong tác phẩm.

2. Văn mẫu phân tích tác phẩm Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn

Dòng văn học hiện thực lên tiếng phê phán những thực trạng của xã hội là một trong những dòng văn học tiêu biểu của Việt Nam ta vào đầu những năm 20 và 30 của thế kỉ XX. Cùng với sự phát triển của dòng văn học này, những cái tên nổi lên với những tên tuổi đình đám cho đến tận ngày nay như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,… Trong các phẩm của các nhà văn này, truyện ngắn Sống chết mặc bay là tác phẩm cực kỳ xuất sắc đã gây được tiếng vang lớn cho chính Phạm Duy Tốn, đây cũng là tác phẩm tiêu biểu cho dòng văn học hiện thực phê phán.

Phạm Duy Tốn là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng ở đầu thế kỉ XX. Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam số lượng không nhiều các tác phẩm, chỉ có bốn truyện ngắn nhưng ông lại luôn được đánh giá là nhà văn có vị trí quan trọng, mở đầu cho xu hướng viết truyện hiện đại. Sống chết mặc bay chính là truyện ngắn đầu tay cũng đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. 

Câu chuyện Sống chết mặc bay được Phạm Duy Tốn xây dựng dựa trên hiện trạng cơ cực của nhân dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Truyện lấy bối cảnh của một vùng nông thôn cũng như bao vùng khác vào đầu những năm 20 thế kỷ XX. 

Trong một đêm nọ, mưa gió bão nổi lên khắp nơi, trên một khúc đê bên sông Nhị Hà đang có nguy cơ vỡ đến nơi, khiến nhân dân đang rơi vào tình trạng vô cùng nguy cấp. Vậy mà, trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc, trong đình quan phụ mẫu mang tiếng đi hộ đê vẫn ngồi bình thản chơi tổ tôm với các tên quan lại khác, không mảy may quan tâm đến tình trạng sắp vỡ của đê điều hay dân chúng đang sống chết ra sao. Chúng để mặc dân chúng tự sinh tự diệt đúng với tên tác phẩm “Sống chết mặc bay”.

Sống chết mặc bay
Hình ảnh nhân dân đang cực khổ hộ đê

Ngày từ khi mở đầu tác phẩm, tác giả đã tái hiện một tình huống hết sức căng thẳng, gay cấn đó là cảnh mọi người đang cùng nhau gắng sức hộ đê. Khi ấy là đã gần một giờ đêm mà nước sông Nhị Hà mỗi lúc một dâng cao, trời mưa tầm tã không ngớt. “Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, cứ bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy ướt như chuột lột”. Với hình thức liệt kê kết hợp cùng với các câu hội thoại, tiếng gọi, tiếng hô hào,… đã thể hiện rõ nét tình thế nguy ngập, căng thẳng, nghìn cân treo sợi tóc của tình trạng lúc đó. 

Bên cạnh đó tác giả Phạm Duy Tốn còn sử dụng các lời bình như: “Tình cảnh trông thật thảm hại” hay “Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi lại với sức trời! Thế đê không sao cự lại với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này sẽ hỏng mất” hàng loạt các câu cảm thán được tác giả đưa ra càng thể hiện cho người đọc rõ hơn nỗi lo lắng  trước tình thế nguy ngập, gấp rút này.

Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc như vậy chắc hẳn ai cũng sẽ đặt ra câu hỏi vậy những người lãnh đạo hay người đứng đầu lúc này hiện đang ở đâu. Tạm rời xa khung cảnh của những người dân đang hộ đê, ống kính máy quay của tác giả lia đến địa điểm phía trên một cái đình, “cao mà vững chãi” đã cho người đọc thấy được chân dung viên quan phụ mẫu. Thì ra là vị quan phụ mẫu nơi đây đang hộ đê trong đình, cùng “hộ đê’ nhưng lại với một khung cảnh hoàn toàn trái ngược: “Đình ấy ở trên mặt đê, nhưng cao cao mà vững chãi, dẫu nước to nữa, cũng không việc gì” và “trong đình, đèn thắp sáng trưng, nha lệ cùng lính tráng, kẻ hầu, người hạ, đi lại rộn ràng”. 

Không khí trong đình ấm cúng, bình thản khác hẳn với không khí đầy lo âu, sợ hãi ở ngoài phía xa kia. Sự bình thản của mỗi người trong đình được thể hiện trên từng quân bài. Quan phụ mẫu đang hộ đê nhưng lại ở trong tư thế vô cùng ung dung và nhàn hạ, trên tay cầm bát yến, ngồi khểnh vuốt râu và đánh bài tam cúc cùng lũ dưới quyền. Bằng ngôn ngữ tự sự, miêu tả cũng như biểu cảm tác giả đã tái hiện một khung cảnh trớ trêu, nhức nhối lòng người, đánh thức niềm đau lòng, xót thương nơi người đọc cho số phận của những người dân nghèo khổ. 

Vào thời điểm “gay cấn nhất” của đê có người vào báo tin với quan: “Bẫm dễ có khi đê vỡ” thì quan lại cau mặt mà gắt: “Mặc kệ”, không dừng lại tác giả còn đẩy sự việc lên một mức độ cao trào khi đê bị vỡ, người dân ai nấy đều tái mặt, sợ hãi thì tên quan phụ mẫu quát tháo : “Đê vỡ rồi!… thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không? Lính đâu rồi? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như thế này”. Rồi ‘ngài” vẫn tiếp tục ván bài sắp ù to của mình. Quả thật là một tên lòng lang dạ thú, độc ác không có tính người. 

Sống chết mặc bay
Hình ảnh quan lại đang ung dung đánh tổ tôm trên đình

Hắn chỉ ngồi lo đánh tổ tôm, chứ không hề một chút quan tâm đến tính mạng đang nguy khốn của người dân, đê vỡ thì mặc đê cũng không thể quan trọng bằng nước bài cao thấp của hắn. Nghệ thuật tương phản gay gắt, cùng diễn biến tăng cấp đã phát huy tác dụng: vạch trần được bộ mặt bất nhân của tên cầm quyền, cũng như cho thấy số phận bất hạnh, khốn khó của người dân. Tác phẩm Sống chết mặc bay đã dựng lên cho người đọc hai bức tranh tương phản rõ nét, phản ánh một cách toàn cảnh xã hội phong kiến thời xưa. 

Hai hình ảnh và nhân vật đối lập này càng làm tăng thêm việc tố cáo những tên quan lại, những kẻ cầm quyền độc ác và không có tình người, chỉ lo vơ vét tiền của của người dân mà không biết quan tâm, chăm lo đến đời sống của nhân dân.

Có thể nói bằng nghệ thuật tương phản rõ nét và tăng cấp độc đáo cùng với việc sử dụng ngôn từ một cách khéo léo, tác giả Phạm Duy Tốn đã dựng lên hai bức tranh, cũng như hai số phận và hai nghịch cảnh: quan lại thì nhàn hạ, sung túc hưởng thụ những thú vui “tao nhã”, dân chúng thì khổ cực, lầm than trong cảnh bão lũ. Ngôn ngữ của tác phẩm đã thoát khỏi tính ước lệ, khuôn sáo và điển tích của văn học thời trung đại, ngôn từ này tiến gần hơn đến lời ăn, tiếng nói hàng ngày, đây chính là ngôn ngữ của văn học hiện đại.

Đây là một truyện ngắn có giá trị hiện thực vô cùng sâu sắc. Tác phẩm Sống chết mặc bay là bản cáo trạng tố cáo mạnh mẽ và đanh thép những kẻ cầm quyền vô trách nhiệm, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, không quan tâm tới sự sống chết của người dân. Và sự đồng cảm, cảm thương sâu sắc đối với nhân dân ta, họ đã phải chịu muôn vàn những khó khăn không chỉ bởi thiên tai, lũ lụt mà còn bởi chính những tên quan phụ mẫu thờ ơ và vô trách nhiệm.

Hy vọng bài văn mẫu phân tích tác phẩm Sống chết mặc bay của chúng mình sẽ giúp bạn phần nào hiểu hơn về nội dung của câu truyện cũng như hỗ trợ phần bạn phần nào trong quá trình học tập.