Tìm Hiểu Và Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng Ngữ Văn Lớp 10

Phân tích bài thơ Tỏ lòng

“Phân tích bài thơ Tỏ lòng của tác giả Phạm Ngũ Lão” chắc hẳn là một đề bài khá là quen thuộc đối với các bạn học sinh trong chương trình ngữ văn lớp 10. Hôm nay, mình sẽ hướng dẫn bạn phân tích bài thơ một cách đầy đủ ý cũng như sâu sắc nhất!

1. Tìm hiểu về tác giả và tác phẩm Tỏ lòng

1.1. Tác giả Phạm Ngũ Lão

Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255 và mất năm 1320. Ông sinh ra tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương (nay là làng Phù Ủng Xã Phù Ủng huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên)

Phạm Ngũ Lão là danh tướng thời Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông sở hữu rất nhiều chiến công hiển hách, là người góp công rất lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống giặc Mông Nguyên lần thứ hai vào năm 1285 và lần thứ ba vào năm 1288. Đương thời, danh tiếng của Phạm Ngũ Lão chỉ xếp sau Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (người được xem là vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự phong kiến của Việt Nam).

Không những tài năng, anh dũng trên chiến trường, Phạm Ngũ Lão còn là một người văn võ song toàn: ngoài việc làm đến chức Điện súy và được phong tước Quan nội hầu cùng những chiến công hào hùng trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm lừng lẫy của dân tộc ông còn rất thích đọc sách, ngâm thơ với những tác phẩm nổi tiếng với nội dung và hàm ý vô cùng sâu sắc. 

Phân tích bài thơ Tỏ lòng
Phạm Ngũ Lão trong Phân tích bài thơ Tỏ lòng

Các tác phẩm chính Phạm Ngũ Lão  nói về chí làm trai và lòng yêu nước nhưng qua thời gian lưu truyền được đến ngày nay chỉ còn lại hai tác phẩm của ông bằng chữ Hán là bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương) mà thôi.

1.2. Phân tích bài thơ Tỏ lòng: Đôi nét về tác phẩm

Để phân tích bài thơ Tỏ lòng được tốt nhất chúng ta cần hiểu rõ được các chi tiết như hoàn cảnh sáng tác, bố cục và giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ. 

1.2.1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ

Bài thơ Tỏ lòng được Phạm Ngũ Lão sáng tác ngay sau chiến thắng quân Mông Nguyên của quân và dân của nhà Trần với hào khí Đông A ngút trời.

Nội dung bài thơ thuộc loại “nói chí tỏ lòng” qua bài thơ để bày tỏ và thể hiện nỗi lòng cùng chí hướng của người tác giả.

1.2.2. Bố cục bài thơ

Bố cục của bài thơ tỏ lòng gồm hai phần:

  • Phần 1 gồm 2 câu thơ đầu: Hình tượng con người và quân đội thời nhà Trần
  • Phần 2 chính là 2 câu còn lại: Nói lên nỗi lòng của tác giả

Như vậy, khi phân tích bài thơ Tỏ lòng chúng ta cũng nên chia nội dung thành hai phần chính như bố cục của bài thơ.

1.2.3. Phân tích bài thơ Tỏ lòng: Giá trị nội dung

Bài thơ tỏ lòng mang vẻ đẹp của hào khí Đông A, điều này được thể hiện qua vẻ đẹp của con người và quân đội thời nhà Trần. Đồng thời, qua bài thơ đó cũng thể hiện được tâm tư và lí tưởng sống cao đẹp của tác giả Phạm Ngũ Lão.

1.2.4. Phân tích bài thơ Tỏ lòng: Giá trị nghệ thuật

Khi phân tích bài thơ Tỏ lòng, giá trị nghệ thuật là phần vô cùng quan trọng để bạn dựa vào để phân tích như cái tài tình của tác giả hay thể hiện sâu sắc hơn nội dung của bài thơ,…. Giá trị nghệ thuật chính của bài thơ Tỏ lòng là:

  • Ngôn từ vô cùng hàm súc, hình ảnh thơ giàu sức khái quát.
  • Bút pháp nghệ thuật phóng đại và so sánh cùng với âm hưởng nhịp nhàng, khi thì hào hùng, mạnh mẽ, khi lại trầm lắng, suy tư từ đó để lại dư âm sâu sắc trong lòng người đọc.

2. Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão

Trong lịch sử nước Việt Nam ta từ thời kỳ dựng nước đến nay đã trải qua biết bao thăng trầm. Dân tộc ta phải đối mới với không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh chống xâm lược, trong số đó không thiếu những cường quốc vô cùng hùng manh. Những cũng ngần ấy lần bằng sự đoàn kết của cả dân tộc, hào khí đông A quân và dân ta luôn giành được thắng lợi cuối cùng. Không thể không kể đến công lao to lớn của những vị lãnh tụ tài tình, những người tướng quân thông minh, dũng mãnh đã lãnh chèo lái con thuyền dân tộc đến với bến bờ độc lập.

Phân tích bài thơ Tỏ lòng
Cuộc kháng chiến quân Mông Nguyên

Không những thế họ còn dùng cả văn chương để nói lên những tâm tư, ước nguyện và tình cảm của mình trước thời cuộc để cổ vũ tinh thần, sĩ khí của quân dân ta. Tiêu biểu nhất trong trong số ấy phải kể đến bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc đó chính là bài thơ “ Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt hay “Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo”. Ngoài ra cũng không thể không kể đến Phạm Ngũ Lão – vị tướng đương thời chỉ đứng sau người được mệnh danh là vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự phong kiến Hưng Đạo Đại Vương với bài thơ thuật hoài.

Bài thơ không chỉ làm cảm xúc nỗi lòng tự hào của nhà thơ với sức mạnh hào khí Đông A của dân tộc mà còn nổi bật lên được cảm hứng yêu nước ý chí anh hùng bất khuất của chính tác giả. Chính vì thế trải qua hàng ngàn năm lịch sự bài thơ Tỏ lòng vẫn còn mang nhiều giá trị sâu sắc đến tận ngày này. Những giá trị ấy là gì cùng đi phân tích bài thơ Tỏ lòng ngay thôi.

Nói nhiều đến hào khí Đông A nhưng hào khí Đông A là gì? Vì thế trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về hào khí Đông. Hào khí Đông A là hào khí thời nhà Trần (Trong lúc này chữ Đông và chữ A ghép lại thì thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được sử dụng để chỉ không khí oai hùng, hào sảng của quân và dân thời nhà Trần (trong lịch sử đây là thời kì mà dân tộc ta có những chiến công vô cùng lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông – đế chế vô cùng hùng mạnh trên thế giới bấy giờ ). 

Hào khí Đông A còn là chỉ cái khí thế hừng hực và sung sướng của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao cống hiến mang tính thời đại mà ở đó bất cứ ai cũng muốn góp sức dựng xây hay chung tay bảo vệ cho sự độc lập, vững bền mãi mãi của non sông đất nước.

Cái hào khí Đông A ngút trời ấy từ ngoài xã hội đi vào trong những áng thơ văn đã trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện đẹp của lòng yêu nước. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng mang âm hưởng và hơi thở của Hào khí Đông A như: Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, Hịch tướng Sĩ của Trần Quốc Tuấn thì bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão cũng thể hiện rất rõ cái hào khí này. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt phổ biến, chỉ gồm bốn câu thơ thôi nhưng đã nói lên được cả một tấm lòng yêu nước, ý chí lớn lao, anh hùng bất khuất của tác giả.

Ngay từ câu thơ mở đầu thể hiện rõ cho người đọc một tư thế vô cùng hiên ngang dũng mạnh, con người ấy cứ đứng sừng sững như không lùi bước trước bất cứ một khó khăn nào:

 “ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”

Nhớ đến hào khí Đông A ở trên chúng ta có thể nhận thấy, câu thơ như gợi tả hết cái hào khí hào hùng ấy, “Hoành sóc” đó là cầm ngang ngọn giáo trên tay. Hình ảnh ngọn giáo được cầm ngang tượng trưng cho vẻ đẹp hiên ngang, vững chãi, không thể bị lay chuyển của quân và dân nhà Trần. Nếu như so sánh với bản dịch thì hai chữ “ Múa giáo” trong bản dịch có phần mờ nhạt và yếu ớt hơn cũng như không thể lột tả hết những vẻ của hai chữ “ hành sóc”. 

Phân tích bài thơ Tỏ lòng
Chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng trong phân tích bài thơ Tỏ lòng

Ngọn giáo ấy không là vũ khí chiến đấu bảo vệ đất nước của những người anh hùng như Phạm Ngũ Lão. Hình ảnh cầm chắc ngọn giáo trong tay thể hiện được lòng quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cùng, dù phải đối mặt với đối thủ đáng sợ như thế nào đi chăng nữa, họ vẫn đứng sừng sững giữa đất trời, tin tưởng vào thứ vũ khí trong tay mình, tin tưởng vào sức mạnh bản thân, sức mạnh của dân tộc. 

Ngay sau đó là cụm từ “ kháp kỉ thu” gợi tả quãng thời gian của lịch sử. có thể nói cái hình ảnh ngọn con người cầm ngang ngọn giáo kia không chỉ bây giờ mới xuất hiện, mà nó đã có từ rất rất lâu rồi, nó đã ăn vào trong máu của những người con dân tộc Việt Nam ngay từ khi sinh ra. Và cái hào khí ấy cũng sẽ không bao giờ mất đi mà nó sẽ luôn trường tồn cùng dân tộc.

Sang đến câu thơ thứ hai Phạm Ngũ Lão tiếp tục miêu tả sức mạnh cũng như vẻ đẹp của quân đội nhà Trần:

 “ Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

“Ba quân khí thế như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi cả trâu”. Có thể thấy đội quân này mang sức mạnh to lớn kể cả về cả sức mạnh thể chất cũng như sức mạnh tinh thần. Sức mạnh ấy có thể nuốt trôi, đả bại tất cả những gì cản bước chân của họ. Chúng ta cũng biết rằng đó là sự thật, chính chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông đã chứng minh cho sức mạnh ấy, một quân đội đông đảo gần như san bằng, đả bại tất cả những nơi mà chúng đi qua nhưng lại 3 lần thất bại trước một dân tộc “nhỏ bé”. Đội quân Sát Thát lên đường với khí thế như hổ báo át đi, mờ đi cả sao Ngưu trên trời nhưng lại tháo chạy trở về. Có lẽ chính cái hào khí Đông A ở câu thơ thứ nhất đã làm nên sức mạnh đáng sợ của đội quân ấy, giúp họ có thể chiến thắng cho dù đối thủ là ai đi chăng nữa.

Đến câu thơ thứ ba Phạm Ngũ Lão lại thể hiện tâm tư tình cảm của mình:

“Nam nhi vị liễu công danh trái”

“Thân là đấng nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh”. Qua câu thơ, tác giả nêu lên suy nghĩ của bản thân cũng như tất cả đáng nam nhi của đất nước về trách nhiệm bổn phận của bản thân khi sống ở trên đời, trong một dân tộc anh hùng. 

Khác với trí làm trai của Nguyễn Công Trứ “ thỏa sức vẫy vùng giữa bốn bể” Phạm Ngũ Lão cho rằng một đấng nam nhi thì phải có công danh trong thiên hạ, đóng góp sức mình cho đất nước. nếu như không thì không xứng đáng là một vị anh hùng. Đã sinh ra trên đời thì phải góp sức mình tạo dựng công lao với đất nước của mình. 

Chúng ta tin tưởng rằng, đây có lễ không phải là suy nghĩ của riêng Phạm Ngũ Lão mà là của toàn thể đấng nam nhi của dân tộc, suy nghĩ này đồng thời cũng thể hiện sự khiêm tốn nơi sâu thẳm tâm hồn họ: những câu lao vẻ vang của mình đều là việc hiển nhiên phải như thế, nếu chưa làm được gì cho đất nước sẽ thấy hổ thẹn, không ỷ vào mình có công với đất nước mà tự mãn.

 “Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

Khi phân tích bài thơ Tỏ lòng đến câu cuối ta lại càng kính phục hơn những con người ấy. Phạm Ngũ Lão tự “thẹn” vì chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng để trừ giặc, cứu nước. Thẹn bởi vì so với công lao to lớn của cha ông mình thì mình chưa có gì đáng nói. Gia Cát Lượng là một kỳ tài nổi tiếng là lòng tuyệt đối trung thành với chủ là Lưu Bị. Vì thế “luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” của Phạm Ngũ Lão có thể coi là một lời thề suốt đời tận tụy với đất nước với vua, 

“Thẹn” cũng có thể là biểu hiện của hiện vọng, hoài bão to lớn đây có thể nói là tâm lý chung của những bậc anh hùng luôn coi những công lao của mình chưa đáng là gì để từ đó nỗ lực hơn. 

Phân tích bài thơ Tỏ lòng
Đền thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão

Bài thơ chỉ có bốn câu thơ ngắn ngủi thôi nhưng đã lột tả được hết được những tâm tư tình cảm của tác giả hay cũng chính là nổi bật lên chủ nghĩa anh hùng yêu nước của Phạm Ngũ Lão nói riêng của quân dân nhà Trần nói chung. Bài thơ như một lời khẳng định ý chí quyết tâm của họ đối với vận mệnh của đất nước. Qua phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão ta càng thêm kính trọng, biết ơn, tự hào đối với lịch sử dân tộc những người anh hùng không tiếc máu xương giữ gìn non sông gấm vóc của đất nước. Từ đó thêm trân trọng hơn với cuộc sống mà chúng ta đang có.

Hy vọng bài phân tích bài thơ Tỏ lòng sẽ giúp bạn phần nào trong quá trình học tập. Chúc bạn luôn đạt được kết quả tốt sau này góp phần cho đất nước tươi đẹp như tư tưởng của bài thơ.